Thứ tư, 28/06/2017
Trang chủ Tìm kiếm Sơ đồ web site Hỏi đáp Hòm thư Diễn đàn
Giới thiệu
Tin tức - Sự kiện
Nghị quyết HĐND tỉnh
Kỷ yếu các kỳ họp
Tài liệu TXCT kỳ họp 4
Thống kê
Đang truy cập: 17
Đã truy cập: 447567
Liên kết website
Trang chủ » Tin tức - Sự kiện » Tin Đoàn ĐBQH
In nội dung Gửi cho bạn
 
Tin Đoàn ĐBQH
Trang    1 2 3 4 5 > >>
Cần có đánh giá tác động và lộ trình thực hiện quy định chuyển từ phí thủy lợi sang giá dịch vụ thủy lợi

Thảo luận tại hội trường, đa số ý kiến phát biểu tán thành việc chuyển từ phí thủy lợi sang giá thủy lợi là cần thiết, phù hợp với cơ chế thị trường, khuyến khích việc sử dụng nước tiết kiệm. Một số ý kiến đánh giá đây là chính sách mới, ảnh hưởng lớn đến người dân vì vậy cần có đánh giá tác động đến kinh tế - xã hội, quy định lộ trình thực hiện quy định này. Đồng thời đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ cần phối hợp để có quy định phù hợp; việc chuyển từ phí sang giá phải tính kỹ, tính đủ, rạch ròi trong việc chia sẻ lợi ích cộng đồng trong vùng có công trình và thiệt hại của người dân trong vùng khi xây dựng công trình; đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về trợ giá với đối tượng người nghèo để người dân có thể chi trả dịch vụ thủy lợi, bảo đảm công bằng trong sử dụng dịch vụ.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Tuân - Thái Bình phân tích việc thay đổi này phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và nền kinh tế thị trường, làm thay đổi nhận thức của xã hội, người dân và chủ thể về công tác thủy lợi, góp phần sử dụng hiệu quả, hợp lý công trình thủy lợi, giúp cho người sử dụng nước từ công trình thủy lợi hiểu rõ bản chất dịch vụ này là hàng hóa, nâng cao ý thức bảo vệ các công trình thủy lợi cũng như sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, do đây là quy định mới, chính sách mới, ảnh hưởng nhiều đến nhân dân, đại biểu Phạm Văn Tuân đề nghị cần cân nhắc, nghiên cứu kỹ về tính khả thi của các chính sách, lộ trình áp dụng giá dịch vụ thủy lợi. Làm thế nào để chuyển biến tư tưởng về thủy lợi từ phục vụ sang dịch vụ. Đánh giá sự ủng hộ của nhân dân khi tính giá dịch vụ thủy lợi được thực hiện ra sao và cần có quy định phân loại khi áp dụng giá dịch vụ thủy lợi. Cùng với đó, cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức và tranh thủ sự ủng hộ của người dân khi luật ban hành.

Theo đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình - Trà Vinh, quy định giá dịch vụ thủy lợi với sản xuất nông nghiệp sẽ mâu thuẫn với chủ trương, chính sách giảm, miễn thuế đất nông nghiệp. Vì vậy cần làm rõ trong dự thảo Luật các nội dung liên quan như với những công trình thủy lợi do người dân đóng góp kinh phí xây dựng thì họ có phải trả giá dịch vụ thủy lợi hay không, hay có được hoàn lại chi phí đã bỏ ra xây dựng công trình thủy lợi này hay không? Trách nhiệm cơ quan làm dịch vụ thủy lợi khi có hạn hán, lũ lụt như thế nào? Trách nhiệm bồi thường của cơ quan được tính như thế nào?

Để chính sách tài chính về thủy lợi khả thi, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lâm Thành - Lạng Sơn cho rằng báo cáo tác động cần bổ sung làm rõ các yếu tố kinh tế - xã hội nhất về hiện trạng các công trình thủy lợi hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư, duy tu bảo dưỡng, nhu cầu sử dụng hiện tại và dự báo nhu cầu sử dụng nước các loại nguồn thu nếu thay đổi về cơ chế giá và đặc biệt tác động đến các nhóm đối tượng sử dụng nước và nhất là đối tượng trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, cần đánh giá về hệ thống quản lý vận hành thủy lợi liên quan đến tiền lương và chi phí quản lý để làm rõ hơn phương án quản lý.

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành cũng đề nghị bổ sung quy định về miễn, giảm cho các đối tượng trong trường hợp các công trình được xã hội hóa, không do nhà nước xây dựng. Việc miễn, giảm nên tiếp cận theo hướng hạn điền, không hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo và cận nghèo, dễ gây những phức tạp trong quản lý, tăng chí phí hành chính và bất bình đẳng cho phát triển. Đại biểu Quốc hội Đinh Thị Phương Lan - Quảng Ngãi có đề nghị bổ sung chính sách hỗ trợ trong trường hợp thực hiện các dịch vụ thủy lợi, giảm thiểu tác hại thiên tai, kiểm soát lũ, tiêu thoát nước chống úng ngập, đảm bảo an toàn tính mạng của người dân; tán thành với quy định về thực hiện trợ giá đối với dịch vụ thủy lợi phục vụ mục tiêu công ích, Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh phí cho tổ chức, cá nhân trong trường hợp phòng, chống thiên tai.

Trong bối cảnh chi phí trong sản xuất nông nghiệp rất cao, lợi nhuận thấp và biến động, cùng với việc Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Phương - Tp.Cần Thơ bày tỏ băn khoăn về tác động của việc chuyển đổi thủy lợi phí sang giá dịch vụ thủy lợi có thể tạo thêm khó khăn cho nông dân, ảnh hưởng đến cộng đồng, người sản xuất nông nghiệp. Nhằm tránh các khó khăn xảy ra tức thời gây khó khăn cho người sản xuất, đại biểu đề nghị dự luật cần quy định rõ về chủ thể và các loại công trình nguồn gốc, các loại công trình được thu tiền trong dự án luật để làm cơ sở cho Chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương quy định chi tiết về khung giá, lộ trình cùng các chính sách hỗ trợ hợp lý, đảm bảo tính khả thi và không gây các tác động lớn và gây sốc đến hiệu quả sản xuất. Đồng thời, tránh phát sinh việc thu phí dịch vụ tràn lan gây tác động xấu trong xã hội.

Bên cạnh đó, quy định kinh phí đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác dịch vụ, bảo vệ hệ thống thủy lợi, thủy lợi nội đồng thuộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hưởng lợi và các thành phần kinh tế khác có thể là điểm rất khó cho người sản xuất nông nghiệp, sẽ làm tăng chi phí dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và ngày càng thấp hơn. Đại biểu Nguyễn Thanh Phương cũng đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu quy định hợp lý, xác định phần nào nhà nước cần đầu tư, phần nào do người hưởng lợi phải chi trả để đảm bảo tính khả thi.

 

Nguồn: quochoi.vn


Cần bổ sung chính sách đối với công trình thủy lợi sử dụng đa mục tiêu

Thảo luận cho ý kiến về dự án Luật thủy lợi, đa số các đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành Luật thủy lợi nhằm bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế- xã hội, trong đó có yêu cầu về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Nhất là trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số càng phát triển thì yêu cầu về cấp nước, tiêu nước càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội cho rằng cần rà soát để tránh trùng lặp với các luật đã ban hành như Luật đê điều, Luật phòng, chống thiên tai, Luật tài nguyên nước, Luật dân sự, Luật đầu tư, Luật giá… Đồng thời, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm bao quát, quản lý đồng bộ giữa hoạt động động thủy lợi, thủy điện, trồng và bảo vệ rừng và mối quan hệ giữa thủy lợi với các ngành kinh tế khác, thể hiện được tính đa mục tiêu của hoạt động thủy lợi.

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Lâm Thành - tỉnh Lạng Sơn, cách tiếp cận của dự thảo Luật theo hướng giải quyết vấn đề quản lý trong công tác thủy lợi trước những thay đổi về chức năng của các công trình thủy lợi cũng như mô hình, cơ chế quản lý, chính sách đầu tư nhằm phát huy vai trò và bảo vệ sự phát triển của hệ thống thủy lợi trong nền kinh tế thị trường và phát triển bền vững. Những nội dung này cũng bảo đảm thể hiện rõ định hướng quan điểm của Đảng và Nhà nước trong công tác thủy lợi.

Về Chiến lược phát triển thủy điện, đại biểu Nguyễn Lâm Thành cho rằng, dự thảo xây dựng cho chu kỳ 10 năm, tầm nhìn 20 năm là quá ngắn và chưa phù hợp với yêu cầu từ thực tiễn. Theo đại biểu, với tầm quan trọng và tính đặc thù của công trình thủy lợi, nhất là các công trình đầu mối hoặc các công trình xây dựng như hồ chứa thường kéo dài từ 5- 7 năm, thậm chí có công trình kéo dài đến 10 năm thì chiến lược phát triển thủy điện phải dài hơi hơn, phải đi trước một bước trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Thời gian của chiến lược phải kéo dài ít nhất 20 năm, tầm nhìn 50 năm và được rà soát, điều chỉnh theo chu kỳ 10 năm hoặc khi có sự thay đổi về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội hoặc khi có biến động lớn do thiên tai.

Về chính sách trong hoạt động thủy lợi, đại biểu Quốc hội Phan Thái Bình - tỉnh Quảng Nam cho biết, thực trạng có nhiều công trình thủy lợi được đầu tư quy mô rất lớn nhưng hiệu quả sử dụng không cao vì thiếu nước. Có công trình khi khảo sát thì nguồn nước đảm bảo nhưng khi thi công xong thì thiếu nước. Có nhiều công trình có nước trong hồ nhưng không được dẫn đến đồng ruộng. Theo đại biểu vấn đề thủy lợi cần phải nhắm đến phục vụ đa ngành, đa mục tiêu, đảm bảo ứng phó với biến đổi khí hậu. Vì vậy, luật cần quan tâm đến một số yếu tố liên quan đến các công trình thủy lợi, như thủy điện, khai thác các công trình thủy điện, thủy lợi vào hoạt động du lịch, vấn đề an toàn hồ đập, vấn đề xả lũ, trồng rừng thủy lợi.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tiến Sinh - tỉnh Hoà Bình nêu quan điểm việc quản lý vận hành các công trình thủy lợi đa mục tiêu như thủy điện, giao thông thủy, phải xác định đầu tiên là thủy lợi. Như trường hợp của thủy điện Hòa Bình đầu tiên là thủy lợi, trong đó có cấp nước cho vùng đồng bằng sông Hồng, có cắt lũ cho vùng thủ đô và đồng bằng sông Hồng, sau đó có giao thông thủy cho đường sông và mục tiêu thứ yếu mới là phát triển thương mại. Không chỉ các công trình lớn, trọng điểm mà các thủy điện nhỏ, theo đại biểu Nguyễn Tiến Sinh, cũng cần quy định rất chặt chẽ ở loại hình đa mục tiêu thế này.

Cùng quan điểm, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Thủy - tỉnh Hậu Giang đề nghị quy định bổ sung quy hoạch thủy lợi thì cần quy hoạch đa mục tiêu và phát huy được tính năng, ứng dụng, kết hợp các công trình dân sinh với các công trình bảo vệ an ninh, quốc phòng như ở các địa bàn trọng điểm về kinh tế và quốc phòng an ninh tại vùng biển, vùng đồng bằng sông nước hay vùng biên giới, hải đảo v.v...

Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi, theo đại biểu Nguyễn Lâm Thành lĩnh vực thủy lợi chịu sự điều chỉnh của nhiều bộ luật và nhiều ngành như Luật tài nguyên nước giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, quản lý khai thác, sử dụng nước và phòng chống tác hại của nước giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ranh giới quản lý của các luật này còn chưa rõ ràng nên trong tổ chức thực hiện còn những vướng mắc và chồng chéo. Đại biểu Nguyễn Lâm Thành đề xuất nên tiếp cận theo hướng phân định những hoạt động liên quan đến nước gắn trực tiếp đến việc xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác các công trình thủy lợi. Hệ thống thủy lợi thì giao quản lý cho ngành nông nghiệp. Các hoạt động liên quan đến nước không gắn trực tiếp các công trình như chất lượng, ô nhiễm nước, điều hòa phân chia nguồn nước các lưu vực, nên giao trách nhiệm cho Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cùng quan điểm, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Ngọc Lan - tỉnh Bắc Ninh đề nghị quy định rõ ràng hơn việc phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa cơ quan Trung ương với địa phương khi thực hiện quy hoạch, xây dựng, quản lý các công trình có liên quan đến công trình thủy lợi để tránh gây thiệt hại, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân.

Bên cạnh đó, đại biểu Phan Thái Bình cũng đề nghị xem xét lại và xác định nội dung, phạm vi phân cấp quản lý. Luật chỉ nên quy định phân cấp quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi, tức là cấp nào thì quản lý, Chính phủ quản lý đến đâu, Bộ Nông nghiệp quản lý đến đâu, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý đến đâu và hạng mục những công trình nào. Tại Khoản 1, Điều 22 có quy định "đối với các công trình thủy lợi do nhà nước đầu tư thì cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về thủy lợi quản lý công trình", còn rất chung chung, cần phải phân định rõ cơ quan chuyên môn nào và cấp nào.

 

Nguồn: quochoi.vn


Quốc hội thông qua Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2017

Theo Nghị quyết, tổng số thu cân đối ngân sách trung ương 2017 là 729.730 tỷ đồng. Tổng số thu cân đối ngân sách địa phương là 482.450 tỷ đồng.

Tổng số chi cân đối ngân sách trung ương là 902.030 tỷ đồng, trong đó dự toán 254.630 tỷ đồng để bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương.

Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2017 được giữ ổn định trong suốt thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020. Trường hợp đặc biệt phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách tác động tăng thu ngân sách địa phương lớn, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định theo quy định tại điểm d khoản 7 Điều 9 Luật ngân sách nhà nước.

Nghị quyết giao Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước và mức phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành, cơ quan khác ở Trung ương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo đúng quy định của Luật ngân sách nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội và thông báo bằng văn bản đến từng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chính phủ chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán chi ngân sách địa phương, bội chi ngân sách địa phương, tổng mức vay của ngân sách địa phương (bao gồm vay để bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc), quyết định phân bổ dự toán ngân sách theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, chỉ đạo các bộ, cơ quan khác ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2017 theo đúng Nghị quyết của Quốc hội đến từng cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước trước ngày 31 tháng 12 năm 2016; thực hiện công khai, báo cáo kết quả phân bổ và giao dự toán ngân sách theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Chỉ đạo và hướng dẫn các bộ, ngành, cơ quan khác ở Trung ương và địa phương phân bổ vốn đầu tư phát triển ưu tiên tập trung đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các chương trình, dự án quan trọng quốc gia, các công trình cấp thiết đang đầu tư dở dang; hỗ trợ nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng; ưu tiên vốn đối ứng cho các dự án ODA, dự án hợp tác công tư (PPP), xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, đối với tất cả các khâu trong quá trình đầu tư. Trong quá trình điều hành, bổ sung vốn đầu tư và các nguồn tài chính khác để hỗ trợ các địa phương trọng điểm thu có tỷ lệ điều tiết giảm trong giai đoạn 2017-2020, tạo điều kiện cho các địa phương này phát huy vai trò động lực kinh tế cho cả nước.

Chỉ đạo các địa phương thực hiện sắp xếp các khoản chi đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ quan trọng và các nhiệm vụ mới tăng thêm trong năm 2017; đồng thời phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để nâng mức đóng góp của ngân sách địa phương trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Nhà nước ban hành.

Đối với các chế độ, chính sách, nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định tại Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước, phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính trong phạm vi dự toán chi ngân sách địa phương được giao hằng năm và nguồn tài chính khác để thực hiện.

Quốc hội giao, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính- Ngân sách, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn theo quy định của pháp luật, giám sát việc phân bổ ngân sách trung ương năm 2017 của các bộ, ngành, cơ quan khác ở Trung ương và Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp.

Tại Hội trường, với 405 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỉ lệ 82,15%, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2017.

 

Nguồn: quochoi.vn


Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp

Nghị quyết sửa đổi khoản 3 Điều 1 và bổ sung khoản 4 vào Điều 1, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho một số đối tượng. Cụ thể: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả đất được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển quyền sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nông trường viên, lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật; Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp góp đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật hợp tác xã.

Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.

Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Nghị quyết này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp không quy định tại Nghị quyết này và tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Quốc hội giao Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương rà soát, chấn chỉnh, thực hiện thu hồi đất nông nghiệp do vi phạm pháp luật đất đai theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Tại Hội trường, với 401 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 81,34%, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

 

Nguồn: quochoi.vn


Quốc hội thông qua Nghị quyết về dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2017

Theo đó, Quốc hội quyết định thông qua dự toán ngân sách nhà nước năm 2017 với tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.212.180 tỷ đồng; Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.390.480 tỷ đồng.

Mức bội chi ngân sách nhà nước là 178.300 tỷ đồng (một trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm tỷ đồng), tương đương 3,5% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong đó, bội chi ngân sách trung ương là 172.300 tỷ đồng (một trăm bảy mươi hai nghìn, ba trăm tỷ đồng), tương đương 3,38%GDP; Bội chi ngân sách địa phương là 6.000 tỷ đồng (sáu nghìn tỷ đồng), tương đương 0,12%GDP.

Tổng mức vay của ngân sách nhà nước, bao gồm vay bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc của ngân sách nhà nước là 340.157 tỷ đồng.

Nghị quyết giao Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ; phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng cường kỷ luật tài chính- ngân sách, thực hiện dự toán ngân sách nhà nước đúng quy định của pháp luật. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí.

Chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các luật thuế và kịp thời hướng dẫn việc chuyển một số loại phí sang giá dịch vụ đúng quy định của pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, chống thất thu, ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả, chuyển giá, trốn thuế, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, gian lận, trốn thuế. Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm giảm thu ngân sách nhà nước.

Từ năm 2017, nguồn thu phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện ô tô, phí đảm bảo hàng hải (sau khi trừ chi phí tổ chức thu) được phản ánh trong thu cân đối ngân sách nhà nước, sử dụng để duy tu bảo trì đường bộ và đảm bảo an toàn hàng hải.

Thực hiện phân chia nguồn thu thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm xăng, dầu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Năm 2017, điều tiết 100% số thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm xăng của Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn về ngân sách trung ương. Từ năm 2018, khi nhà máy đi vào hoạt động ổn định, sẽ xác định lại cơ chế theo quy định của pháp luật.

Thu vào ngân sách nhà nước 72% số tiền lãi dầu, khí nước chủ nhà, lợi nhuận được chia từ Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro” và tiền đọc tài liệu phát sinh trong năm 2017; số tiền còn lại (28%) đầu tư trở lại cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư theo quy định của pháp luật.

Hướng dẫn các địa phương đưa nguồn thu từ hoạt động xổ số kiến thiết vào cân đối thu ngân sách địa phương và sử dụng toàn bộ nguồn thu này cho đầu tư phát triển do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, trong đó cần ưu tiên để đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, chương trình xây dựng nông thôn mới và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bố trí chi cho công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm tại địa phương tương ứng số thu tiền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm nộp ngân sách địa phương.

Bảo đảm tỷ lệ phát hành trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ 5 năm trở lên tối thiểu 70% tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ để đáp ứng yêu cầu huy động vốn cho ngân sách, cơ cấu kỳ hạn danh mục nợ, quản lý rủi ro và phát triển thị trường trái phiếu.

Điều hành chi ngân sách nhà nước theo dự toán được giao. Tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên của từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương; giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết; hạn chế bố trí kinh phí đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài; hạn chế mua sắm ô tô và trang thiết bị đắt tiền; khuyến khích mở rộng việc thực hiện khoán xe công đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý chi ngân sách nhà nước. Chỉ ban hành chính sách làm tăng chi ngân sách nhà nước khi thật sự cần thiết và có nguồn bảo đảm. Quản lý chặt chẽ và hạn chế tối đa việc ứng trước dự toán ngân sách nhà nước và chi chuyển nguồn sang năm sau. Không chuyển vốn vay, bảo lãnh chính phủ thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước. Thực hiện nghiêm Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng.

Thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,21 triệu đồng/tháng lên 1,3 triệu đồng/tháng, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng mức tăng lương cơ sở, thời điểm thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.

Quốc hội giao các bộ, cơ quan Trung ương, địa phương trên cơ sở dự toán ngân sách nhà nước được giao tự cân đối để bố trí nguồn tăng mức lương cơ sở.

Ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (đối tượng do ngân sách nhà nước đảm bảo) và trợ cấp ưu đãi người có công; hỗ trợ một phần tiền lương tăng thêm cho một số địa phương ngân sách khó khăn không cân đối được nguồn theo quy định của Chính phủ.

Năm 2017, phát hành 50.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để đầu tư cho các công trình, dự án quan trọng, cấp bách trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Quản lý chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tăng cường huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát triển, hoàn thiện cơ sở pháp lý để đẩy mạnh hợp tác công tư, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn và lĩnh vực du lịch.

Hướng dẫn các địa phương sử dụng nguồn bổ sung có mục tiêu để ưu tiên hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng. Cho phép chuyển nguồn vốn trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2016 chưa phân bổ sang năm 2017.

Từ năm 2017, chỉ đạo các địa phương có trách nhiệm chủ động bố trí chi trả nợ lãi và nợ gốc theo đúng quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước; trong điều hành cần có biện pháp tích cực để giảm bội chi. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ, nhất là đối với các khoản vay mới, vay có bảo lãnh của Chính phủ. Bảo đảm dư nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định.

Chỉ đạo các bộ, cơ quan Trung ương, địa phương đẩy nhanh việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công gắn với lộ trình thực hiện tính đúng, tính đủ giá dịch vụ sự nghiệp công, trên cơ sở đó, giảm mức hỗ trợ trực tiếp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, dành nguồn để tăng chi hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách, tạo nguồn cải cách tiền lương và hỗ trợ mua sắm sửa chữa để nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công. Thực hiện điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý giá theo hướng sát với giá thị trường, bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh hợp lý, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế khác.

Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính - Ngân sách, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn theo quy định của pháp luật, giám sát việc thực hiện các quy định của Nghị quyết này.

Tại Hội trường, với 391 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 79,31%, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2017.

 

Nguồn: quochoi.vn


Cơ quan tố tụng có trách nhiệm tổ chức xin lỗi công khai người bị oan trong mọi trường hợp

Thảo luận tại Hội trường, đa số các đại biểu cơ bản tán thành với những nội dung của dự án Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi). Các đại biểu cho rằng, việc sửa đổi Luật này thể hiện sự đề cao quyền con người, quyền công dân và xác định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, cũng như cá nhân khi gây ra thiệt hại với công dân.

Không mở rộng phạm vi bồi thường sang lĩnh vực ban hành chính sách, pháp luật

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Liên - tỉnh Long An đồng tình với phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước tập trung tại 3 lĩnh vực: Quản lý hành chính, Tố tụng và Thi hành án như dự thảo Luật đã nêu. Bởi đây là các lĩnh vực quan trọng nhất, liên quan trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân và đời sống hằng ngày của người dân. Đại biểu cũng đồng tình với việc không mở rộng phạm vi bồi thường sang lĩnh vực ban hành chính sách, pháp luật vì không khả thi, và khó xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong lĩnh vực này.

Dự thảo Luật quy định phạm vi bồi thường theo phương pháp liệt kê. Điều này, thuận lợi cho việc áp dụng Luật, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp cụ thể Nhà nước phải bồi thường, mà chưa được liệt kê hết trong dự thảo Luật (ví dụ: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường nếu người thi hành công vụ của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Thi hành án đã ra Quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, mà gây thiệt hại). Mặt khác, một số Luật có liên quan quy định trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong một số trường hợp cụ thể, nhưng dự thảo Luật lại chưa quy định một điều khoản quét, nên chưa có cơ chế giải quyết bồi thường trong các trường hợp này.

Vì vậy, đại biểu Hoàng Văn Liên đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại các trường hợp được bồi thường để bổ sung vào dự thảo. Đồng thời, cần có quy định “Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định”, để xử lý tồn tại nêu trên.

Cho ý kiến về vấn đề này, đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng - tỉnh Bến Tre tán thành việc cân nhắc quy định phạm vi bồi thường, nhằm bảo đảm quyền con người, phù hợp với Hiến pháp và các luật có liên quan. Theo nguyên lý chung, nếu việc gây thiệt hại đã được xác định một cách hợp pháp bằng các cam kết ghi rõ trong hợp đồng thì việc bồi thường được giải quyết theo cam kết đó trên cơ sở các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật thương mại, Bộ luật Lao động; trong trường hợp chưa có hợp đồng thì giải quyết theo các quy định về bồi thường thiệt hại trên cơ sở các quy định tại Chương 21 Bộ luật Dân sự. Do đó, cần mở rộng phạm vi bồi thường bao gồm các lĩnh vực: quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án và các trường hợp khác gây thiệt hại ngoài hợp đồng, như: các trường hợp gây thiệt hại ở giai đoạn tiền tố tụng; trường hợp cơ quan nhà nước tổ chức các sự kiện hoặc thực hiện các dịch vụ công dẫn đến thiệt hại của người dân. Đồng thời, cần có sự giải thích đầy đủ, rõ ràng về các lĩnh vực nêu trên, đặc biệt phải làm rõ nội hàm của “quản lý hành chính”.

Cơ quan tố tụng có trách nhiệm tổ chức xin lỗi công khai người bị oan trong mọi trường hợp

Cho ý kiến về vấn đề bồi thường oan trong tố tụng hình sự, đặc biệt là vấn đề tổ chức xin lỗi công khai người bị oan, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thủy - tỉnh Bắc Kạn cho rằng, theo dự thảo, tại các điều 4, 41 và 56, xin lỗi công khai người bị oan là một khâu nằm trong quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường. Theo đó, nếu như người bị oan có yêu cầu bồi thường thì thủ tục xin lỗi công khai mới được diễn ra.

Đại biểu cho rằng cách đặt vấn đề như dự thảo là chưa phù hợp bởi cơ quan của nhà nước đã làm oan cho người vô tội, việc tổ chức công khai xin lỗi người bị oan là trách nhiệm mà nhà nước phải làm mà không phụ thuộc vào việc người bị oan có yêu cầu hay không. Hơn nữa, trong tố tụng hình sự, để phát hiện tội phạm, pháp luật trao cho các cơ quan tố tụng được quyền áp dụng nhiều biện pháp có tính cưỡng chế cao. Nếu như áp dụng đúng thì sẽ có tác dụng đúng thì sẽ tìm ra tội phạm, nếu áp dụng sai thì hậu quả gây ra là rất nặng nề.

Qua đó, đại biểu Nguyễn Thị Thủy đề nghị cần quy định rõ trong luật này: cơ quan tố tụng có trách nhiệm tổ chức xin lỗi công khai người bị oan trong mọi trường hợp oan sai mà không phụ thuộc vào việc họ có yêu cầu hay không. Về trình tự thủ tục xin lỗi, đại biểu đề nghị cần quy định cụ thể trong Luật này mà không giao cho Bộ Tư pháp hướng dẫn như trong dự thảo. Bởi một trong những nguyên nhân dẫn đến việc xin lỗi có tính hình thức như trong thời gian vừa qua là do trong luật hiện hành chưa quy định cụ thể vấn đề này, dẫn tới có những trường hợp thời gian bị oan là 4 năm nhưng thời gian tổ chức xin lỗi chỉ là 5 phút đã khiến cho người bị oan bật khóc ngay sau khi kết thúc.

Về vấn đề phục hồi danh dự người bị oan, đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Liên - tỉnh Long An nhận định, dự thảo Luật quy định theo hướng trong hoạt động tố tụng hình sự, cơ quan nào giải quyết cuối cùng mà làm oan người vô tội thì phải bồi thường. Nhưng thực tế, trong nhiều trường hợp, việc làm oan người vô tội là lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nhiều trường hợp, các cơ quan sau sau ra các Quyết định tố tụng phụ thuộc nhiều về tài liệu, chứng cứ do cơ quan tố tụng trước đó điều tra, thu thập. Vì thế, đại biểu đề nghị, cần quy định trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng làm oan người vô tội thì phải có trách nhiệm xin lỗi công khai, phục hồi danh dự cho người bị oan, trong đó cơ quan giải quyết cuối cùng làm chủ trì thì mới bảo đảm tính cầu thị, thực sự xin lỗi người dân đối với việc làm sai của mình.

 

Nguồn: quochoi.vn


Dự thảo Luật chưa có những chính sách phát triển thị trường khoa học công nghệ cụ thể, đột phá

Thảo luận tại tổ, nhiều đại biểu bày tỏ nhất trí với Tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi) về sự cần thiết ban hành Luật để kịp thời thể chế hóa các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ; coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới, ứng dụng và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của nền kinh tế và bảo vệ môi trường; hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong nước; kiểm soát chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, ngăn chặn nhập khẩu công nghệ lạc hậu; tiếp thu và làm chủ công nghệ cao, tiên tiến của thế giới; đồng thời kiểm soát và từng bước chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài phù hợp với điều kiện Việt Nam và đáp ứng yêu cầu về hội nhập quốc tế.

Dự thảo Luật chưa có những chính sách phát triển thị trường khoa học công nghệ cụ thể, đột phá

Tại tổ số 07, đại biểu Quốc hội Nghiêm Vũ Khải - Hải Phòng cho biết mục đích hướng đến của chuyển giao công nghệ là nhằm phát triển một chuỗi sáng kiến, sáng tạo khoa học công nghệ đưa đến ứng dụng, thương mại hóa. Việc ban hành Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi) vào thời điểm này là cơ hội để đưa ra các chính sách nhằm phát triển khoa học công nghệ một cách cụ thể và có tính chất đột phá. Tuy nhiên, các quy định về cơ chế chính sách phát triển khoa học công nghệ trong dự thảo Luật lại chưa thực sự mạnh mẽ, tạo ưu tiên phát triển cho khoa học công nghệ.

Có cùng nhận định, tại tổ số 10, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lâm Thành - Lạng Sơn đánh giá, dự thảo Luật chưa có những quy định đột phá để phát triển thị trường khoa học công nghệ. Theo đại biểu, dự thảo luật vẫn thiết kế theo hướng cũ là cho vay, cấp ngân sách để làm, có yếu tố thị trường nhưng rất ít. Vì vậy, phải định rõ cơ chế quản lý, tạo ra được kênh quản lý để nhà nước mua sản phẩm, doanh nghiệp mua ý tưởng khoa học công nghệ. Nhà nước chỉ cấp đầu vào cho những sản phẩm Nhà nước ưu tiên thì mới khuyến khích được nghiên cứu.

Về các chính sách hỗ trợ, tại Đoàn thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng cần thiết phải phân chia các doanh nghiệp mới thành các nhóm để áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp. Cụ thể, đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp mang yếu tố công nghệ, sáng tạo thì được hỗ trợ từ quỹ đầu tư mạo hiểm, còn đối với doanh nghiệp khởi nghiệp mang tính chất là doanh nghiệp nhỏ và vừa lấp nghiệp thì hỗ trợ về tài chính, tiếp cận vốn, hỗ trợ khoa học, đào tạo...

Tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

Tại tổ số 05, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cho rằng, dự thảo luật cần quy định để làm sao Bộ Khoa học- Công nghệ và những người có thẩm quyền quản lý nhà nước lĩnh vực này can thiệp được vào quá trình chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ từ nước ngoài vào. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho biết, thực tế trong các dự án, hầu như cơ quan quản lý nhà nước tiếp cận với công nghệ của họ là rất khó. Như trường hợp công nghệ của Formosa Hà Tĩnh, dù đây là tập đoàn công nghệ cao, nhưng nếu quản lý nhà nước và các quy định pháp luật không chặt chẽ thì có thể họ lách, đưa công nghệ không phù hợp vào. Vì vậy, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị Luật phải đưa ra quy định chặt chẽ về chuyển giao công nghệ để có thể kiểm tra được, làm sao nước ngoài không lợi dụng kẽ hở để đưa công nghệ lạc hậu vào.

Bày tỏ lo ngại nếu các quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ không chặt chẽ thì Việt Nam có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ của thế giới, đại biểu Quốc hội Hoàng Quang Hàm- tỉnh Phú Thọ cho rằng dự thảo Luật lần này phải giải quyết được nguy cơ trên. Theo đó, phải có các điều khoản khẳng định nhập công nghệ tiên tiến và thực hiện tiền kiểm và quy định rõ ràng về quy trình khi có dấu hiệu thực hiện chuyển giao công nghệ phải có sự tiền kiểm, thẩm định, sự vào cuộc của các cơ quan quản lý chuyên ngành. Đồng thời phải có quy định về tiêu chuẩn thực hiện chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI nhằm khắc phục tình trạng các dự án FDI chủ yếu ở lĩnh vực khai thác khoáng sản, công nghệ giá rẻ mà chưa có việc chuyển giao công nghệ.

Có cùng nhận định về sự cần thiết phải tăng cường quản lý của cơ quan nhà nước, tại tổ số 04, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quốc Khánh- tỉnh Quảng Nam cho rằng nội dung quản lý nhà nước trong dự thảo Luật còn đơn sơ, cần phải quy định chi tiết hơn nữa, bảo đảm các cơ quan nhà nước phải sàng lọc, bảo đảm các công nghệ lạc hậu không được phép thâm nhập vào trong nước và chỉ cho phép các công nghệ tiên tiến. Đại biểu nhấn mạnh, trong quá trình đó, ngoài quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ thì sự quản lý của các bộ chủ quản là hết sức quan trọng. Đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến phát triển kinh tế xã hội cũng như đời sống nhân dân như là lọc hóa dầu, sản xuất thuốc...phải tăng cường vai trò định hướng, quản lý nhà nước trong việc sàng lọc công nghệ.

 

Nguồn: quochoi.vn


Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật đường sắt (sửa đổi)

Trong phiên thảo luận, đa số đại biểu đánh giá cao ban soạn thảo đã bổ sung nhiều nội dung mới so với Luật Đường sắt năm 2005. Nhưng có ý kiến cho rằng về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 dự thảo Luật vẫn giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của Luật Đường sắt năm 2005 là chưa hợp lý, chưa bảo đảm tính khái quát toàn diện các quy định của dự thảo Luật. Do vậy, các đại biểu đề nghị cần nghiên cứu, bổ sung theo hướng vừa bảo đảm tính tổng quát nhưng vừa nhấn mạnh đến những vấn đề đổi mới cốt lõi của dự thảo Luật như kinh doanh đường sắt, chính sách phát triển đường sắt, công nghiệp đường sắt, đường sắt tốc độ cao, trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động đường sắt.

Tại Tổ 1 - Đoàn đại biểu Hà Nội, một số đại biểu phân tích nguyên nhân của những hạn chế thời gian qua của ngành đường sắt một phần do công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch chưa tốt, trong khi đó quy định về quy hoạch trong dự án còn chung chung. Các đại biểu nhấn mạnh công tác quy hoạch phải tạo nên năng lực chủ lực trong vận chuyển hành khách khối lượng lớn, tốc độ nhanh và trong toàn bộ vận hành của mạng lưới vận tải công cộng trên các đô thị lớn và nối kết liên vùng, kết nối quốc tế. Luật cần quy định rõ và đầy đủ hơn hướng ưu tiên phát triển của ngành đường sắt, nhất là công tác đầu tư để đưa vận tải đường sắt sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, yếu kém như hiện nay. Bên cạnh đó cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ, ưu đãi trong phát triển công nghiệp đường sắt để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng, nhanh chóng của người dân.

Tại tổ 3 - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình, Lai Châu, Nghệ An, Trà Vinh các đại biểu quan tâm nhiều đến quy định kinh doanh đường sắt. Đại biểu Quốc hội Lê Quang Huy - tỉnh Nghệ An, cho rằng, cần có quy hoạch đồng bộ hơn về kinh doanh đường sắt; doanh nghiệp được giao kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do Nhà nước đầu tư không được trực tiếp kinh doanh hoặc đầu tư tài chính vào doanh nghiệp vận tải đường sắt trên tuyến đường sắt được giao. Nhiều đại biểu cho rằng, về kinh doanh đường sắt, quy định như khoản 2 điều 54 của Dự thảo Luật là hạn chế quyền tham gia kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Tại tổ 7 - Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, tỉnh Cà Mau và tỉnh Bắc Giang các đại biểu tập trung vào chính sách ưu đãi, hỗ trợ và phát triển đường sắt tại điều 5 và điều 6 của dự thảo. Một số đại biểu đề nghị, nên đầu tư chế tạo nguyên vật liệu cho kết cấu hạ tầng đường sắt, không chỉ phát triển đường sắt từ quỹ đất, kết cấu hạ tầng mà còn phải tập trung vào nguồn lực đầu tư, định hướng nâng cấp hệ thống đường sắt hiện có, ưu tiên mở hệ thống đường sắt vùng sâu vùng xa...

Về trách nhiệm quản lý Nhà nước tại Điều 9, các đại biểu đề nghị cần quy định rõ trách nhiệm của địa phương do tính chất liên kết vùng đặc thù để vừa đảm bảo mạng lưới đường sắt được mở rộng, vừa nâng cấp được hệ thống. Trước tình trạng vi phạm hành lang an toàn đường sắt diễn ra gần đây, các đại biểu cũng yêu cầu giao cho chính quyền địa phương phải quản lý chặt chẽ, để giao thông đường sắt được thông thoáng, Luật đi vào thực tiễn, giảm tải cho đường bộ, đường thủy.

Cũng trong sáng nay, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở tổ về Dự án Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi) và họp riêng về Dự thảo Nghị quyết về việc dừng thực hiện Dự án xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

 

Nguồn: quochoi.vn


Về đầu trang
Trang    1 2 3 4 5 > >>
Thông tin mới
Thông báo về việc thay đổi tên miền Trang thông tin điện tử HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế

Ban Biên tập Trang thông tin điện tử HĐND tỉnh xin thông báo: Kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2017, tên miền mới của Trang thông tin điện tử HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế được chuyển đổi đến địa chỉ: http://www.hdndthuathienhue.gov.vn Ban Biên tập Trang thông tin điện tử HĐND tỉnh thông báo đến các cơ quan, đơn vị và cá nhân biết để tiện truy cập và khai thác thông tin.   BAN BIÊN TẬP

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 2/2017

Hỗ trợ nông dân bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường bị phạt đến 2 tỷ đồng; đối tượng, điều kiện mua hàng miễn thuế;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 2/2017.

Trang chủ   |   Góp ý   |   Cấu trúc Website   |   Hỗ trợ
© 2006-2012 Designed by Trung tâm Tin học
Giấy phép số: 123/GP-TTĐT ngày 21/8/2012 của Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông